Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

  
Hút thuốc lá gây nguy cơ ung thư tủy xương cao - Sức Khỏe - Chăm sóc sức khỏe - Kiến thức y học - Sức khỏe gia đình

Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.
 Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.

 Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.
 GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.


 Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Hội chứng chèn ép tủy sống thường gặp trong ung thư
Hội chứng chèn ép tủy sống là một tai biến thường gặp trong ung thư, gây đau đớn và có thể gây mất chức năng thần kinh không phục hồi được.
Khi có tổn thương nguyên phát di căn đến cột sống gây chèn ép tủy sẽ gây ra hội chứng này. Ở người lớn, phần cuối cùng của tủy sống tương đương mức đốt sống thắt lưng 1, dưới mức này là đám rối thần kinh thắt lưng cùng tạo nên tổ chức đuôi ngựa trôi nổi trong dịch não tủy.

Nếu các tổn thương đốt sống, tủy sống phần trên mức thắt lưng 1 thì nguy cơ tổn thương gây chèn ép tủy sẽ cao hơn. Các ung thư thường gặp như di căn cột sống là ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, phổi, thận, ulympho không hodgkin, đa u tủy xương...
Triệu chứng như đau lưng có tính chất lan tỏa tại vùng đốt sống bị tổn thương chiếm 90% các trường hợp, yếu cơ có thể do bệnh nhân cảm nhận, hoặc do thăm khám phát hiện của thầy thuốc chiếm 75%.
Tình trạng yếu cơ nhanh cần phải phối hợp với bác sĩ ngoại khoa thần kinh, các nhà xạ trị để có biện pháp điều trị gấp, tránh các tổn thương thần kinh không phục hồi. Một số tổn thương tủy sống đoạn thấp có thể gây rối loạn cơ tròn bàng quang, trực tràng gây bí đái, bí ỉa. Rối loạn cảm giác, dị cảm, mất cảm giác cũng thường gặp.


Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hiệu quả nhất, CT cũng có giá trị cao, xạ hình xương chỉ có giá trị xác định có tổn thương đốt sống, không phát hiện được tủy sống bị ảnh hưởng.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?



Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?


Phòng bệnh ung thư cổ tử cung, phong benh ung thu co tu cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do UTCTC. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh UTCTC cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.


Trên toàn thế giới, hàng năm có khoảng 530.232 trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung được chẩn đoán, chiếm 8.8% các trường hợp ung thư ở phụ nữ, và khoảng 275.008 phụ nữ (51.9%) chết vì ung thư cổ tử cung [1]. Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng trên 5.000 trường hợp mắc mới và trên 2.000 trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung [2].
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 [2]. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.


Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây UTCTC. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển UTCTC như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…
ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.


Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn UTCTC lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể [3].
Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán tại cơ sở chuyên khoa tuyến cuối và cập nhật ứng dụng công nghệ mới, kể từ tháng 7 năm 2012, Bệnh viện Từ Dũ chính thức đưa xét nghiệm phát hiện sớm ung thư CTC ThinPrep Pap Test vào phục vụ chẩn đoán và điều trị UTCTC tại bệnh viện.
thinPrep Pap Test được Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận đưa vào sử dụng từ tháng 05/1996. Phương pháp này hiện đang được sử dụng phổ biến tại Mỹ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực. ThinPrep Pap Test là bước cải tiến kỹ thuật của phương pháp Pap smear truyền thống, thông qua công nghệ chuyển tế bào có kiểm soát bằng màng lọc giúp làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong việc phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là ung thư tế bào biểu mô tuyến, một loại tế bào ung thư rất khó phát hiện.
Tại Việt Nam, ThinPrep Pap Tets cũng đã được triển khai rộng khắp các bệnh viện trong cả nước như: Bệnh viện Phụ Sản TW, bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Hùng Vương, Phụ sản Hà Nội, K, ung bướu Hồ Chí Minh, phụ sản Hải Phòng…
Các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng ThinPrep Pap Test tăng tỷ lệ phát hiện bệnh không chỉ ở chỗ cải thiện việc lấy mẫu bệnh phẩm mà còn do loại bớt các thành phần gây nhiễu ( máu, chất nhầy…) nhờ chuẩn bị lam bằng máy T2000.
Có thể nói, nhờ có các công cụ chẩn đoán sớm chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát căn bệnh UTCTC nguy hiểm. Mỗi phụ nữ hãy quan tâm hơn đến sức khỏe của mình bằng cách khám phụ khoa và làm xét nghiệm UTCTC định kỳ.


Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Chảy máu cam bất thường – Có thể bị ung thư vòm họng

Chảy máu cam bất thường – Có thể bị ung thư vòm họng


Ung thư vòm họng là gì?

Ung thư vòm họng là bệnh lý xuất hiện các khối u ác tính ở vùng hầu họng mà vị trí của nó là họng trên, tức là phần họng mũi theo cách gọi của các nhà y học. Ung thư vòm họng xuất hiện tại vị trí ngay cửa sau của mũi vì thế mà chúng ta khó có thể nhìn thấy qua gương. Phần như nốt sùi, cục ụ nổi lên ở họng mà chúng ta nhìn thấy qua gương là phần họng miệng. Ung thư vòm họng không bao gồm những vị trí này. Vì thế mà nếu như bạn bảo bạn nhìn thấy khối u của họng qua gương rồi cho rằng ung thư vòm họng thì hoàn toàn không phải. Và bạn cũng lưu ý một điều hết sức quan trọng là không phải mọi khối u ở hầu họng đều là ung thư vòm họng. Phần lớn là khối u rất lành tính.
Ung thư vòm họng gồm 3 loại cơ bản là ung thư biểu mô phủ, ung thư biểu mô tuyến và ung thư dạng lympho. Trong 3 loại trên thì ung thư biểu mô phủ là dạng ung thư hay gặp nhất. Hầu như chiếm tới 90% ung thư vòm họng của người trưởng thành và chiếm tới 35% ung thư vòm họng ở trẻ em.


Có một điều hết sức đặc biệt ở đây là ung thư vòm họng có sự phân bố theo chủng tộc và quốc gia. Chắc có lẽ điều này liên quan đến khí hậu, nước uống và tập quán sinh hoạt. Vì người ta đã thống kê và thấy rằng ung thư vòm họng gặp nhiều nhất ở Singapore và Trung Quốc. Ở các nước có tỷ lệ ung thư vòm họng cao như Singapore thì ung thư vòm họng là ung thư hay gặp hàng thứ 6 ở nam giới trưởng thành, nhất là những người nằm trong độ tuổi từ 35-55. Có lẽ chính thói quen hút thuốc, thói quen ăn mặn và thói quen ăn cay hăng đã ảnh hưởng đến quốc gia này. Mỗi năm có chừng 300-400 người bị bệnh ung thư vòm họng được chẩn đoán mới mắc.
Bệnh nguy hiểm như thế nào?
Ung thư vòm họng không thể là một bệnh có thể coi nhẹ. Đó là vì nó nằm rất gần các cơ quan nhạy cảm đến cảm giác hàng ngày của chúng ta. Nó lại nằm rất gần cơ quan chỉ huy tối cao của cơ thể, não bộ. Vì thế nguy cơ mà chúng xâm chiếm và gây bệnh ở những cơ quan này rất cao.


Nó xuất hiện ở vòm họng nhưng lại có thể gây rắc rối cho mũi của bạn, làm cho bạn cảm thấy khó thở. Nó ở vòm họng nhưng có thể gây vấn đề cho tai, làm cho tai nghe không bình thường. Và đáng ngại nhất là chúng nằm quá gần nền sọ nên chúng dễ dàng xâm nhiễm vào não bộ và gây ung thư nào, làm tổn thương các dây thần kinh sọ não cực kỳ quan trọng.
Ung thư vòm họng nếu để muộn, tỷ lệ chết có thể lên đến 70-80%. Nói tỷ lệ chết ở đây là nói những người không sống quá 1 năm. Khi đó, khối ung thư đã lan đi quá xa, vượt ra khỏi vị trí ranh giới của họng và đi vào các cơ quan khác. Nó có thể đi tới não bộ, mắt, hàm, họng dưới, thực quản, hạch vùng đầu cổ. Và một điều quan ngại khác là sự sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì những cơ quan phải hoạt động hàng ngay như họng, mũi, thần kinh bị tổn thương nghiêm trọng.


Tuy nhiên, có một may mắn ở đây là nếu được phát hiện và điều trị bài bản thì tỷ lệ sống rất cao. Tỷ lệ sống ở đây là tỷ lệ những người có thời gian sống quá 5 năm. Tỷ lệ này cũng rất cao, có thể đạt được 80%. Việc điều trị và mức độ bệnh quyết định rất lớn đến thời gian sống thêm của nạn nhân. Có người có thể chỉ sống được 5-6 năm, nhưng ngược lại có người có thể sống đàng hoàng thêm 15-20 năm. Quan trọng là phát hiện từ khi còn là mầm nhú và điều trị tuân thủ theo đúng nguyên tắc và lời dặn của bác sỹ.
Chúng ta có thể nhận biết được không?

Riêng với khối ung thư ở nội tạng thì chúng ta khó lòng mà tự nhận biết được nhưng với khối ung thư vòm họng, người bệnh hoàn toàn có thể nhận biết được bệnh của mình. Nó có rất nhiều biểu hiện nhưng tựu trung lại có 4 dấu hiệu gợi ý ung thư vòm họng rất cơ bản. Một triệu chứng thì khó có thể chẩn đoán là ung thư vòm họng nhưng nếu bạn có đầy đủ 3-4 triệu chứng như dưới đây thì cần phải đi kiểm tra ngay lập tức. Bốn dấu hiệu đó là:
Đau họng triền miên
Nếu như bạn là người đau họng triền miên thì hãy hết sức chú ý với bệnh ung thư vòm họng. Đau họng cứ kéo dài từ ngày này qua ngày khác. Điều đáng nói, cảm giác đau không đồng đều. Lúc thì chỉ đau âm ỉ nhưng lúc thì lại đau nhói rất rõ ràng. Khác với cảm giác đau của viêm họng, bạn có một cảm giác đau rát rất rõ ràng. Ung thư vòm họng hiếm khi có cảm giác đau rát.



Một điều cũng dễ nhận ra là đau do viêm họng rất đáp ứng với thuốc kháng sinh và các thuốc khác để điều trị. Nhưng với đau do ung thư vòm họng, việc dùng các thuốc thông thường hầu như không đạt kết quả gì đáng kể.
Nghẹt mũi vô cớ
Dấu hiệu dễ nhận ra nữa là sự nghẹt mũi vô cớ. Bạn không có dấu hiệu chảy mũi, không bị sổ mũi, không bị chảy mũi nhưng lại rất nghẹt thở. Nghẹt thở là vì khối ung thư xuất hiện ở ngay cửa mũi sau và chẹn vào đường thở. Nếu như khối ung thư xuất hiện cách xa đường thở thì chúng ta ít có dấu hiệu này nhưng đa phần là xuất hiện ở ngay cạnh đường thở nên chuyện bít một phần đường thở là hoàn toàn có thể.
Chảy máu cam bất thường
Không bị va đập, không có chấn thương như bạn lại đột ngột bị chảy máu cam, bạn hãy hết sức cẩn thận. Thông thường hiện tượng chảy máu cam chỉ xảy ra khi bạn bị một chấn thương nào đó. Hoặc bạn bị mắc một bệnh cơ thể nào khác như tăng huyết áp, rối loạn đông máu, suy gan thì bạn mới “tự nhiên” chảy máu cam.
Nhưng nếu bạn không bị các nguy cơ này thì bạn cần đề cao cảnh giác. Chảy máu cam trong trường hợp này cũng không giống với các trường hợp thông thường. Chúng ta bị chảy máu ở ngay vùng mạch máu mũi ở trong lỗ mũi. Còn ung thư vòm họng gây chảu máu cam từ cửa mũi sau. Đó là do vỡ mạch máu mũi vì khối ung thư phá huỷ.
Ù tai


Ù tai đó là dấu hiệu của khối ung thư đã chèn lấp và làm phì đại đám bạch huyết vùng cạnh tai, gọi là amidan vòi. Khi khối ung thư lan đến vị trí này thì nó làm cho sự thông thương giữa tai, họng bị cắt đứt. Tai chúng ta tự nhiên bị ù như thể có người bịt tai chúng ta lại và có những âm thanh lạ như vo ve, ù ù. Rất khó chịu.
Lẽ dĩ nhiên, bệnh còn nhiều biểu hiện khác, nhưng đó là những biểu hiện kín đáo và chỉ được phát hiện và thẩm định bởi bác sỹ. Còn về phía bạn, nếu bạn có càng nhiều các triệu chứng trong 4 dấu hiệu ở trên thì cần phải đi khám ngay lập tức.
Phương pháp điều trị?
Điều trị bệnh ung thư vòm họng không quá phức tạp. Hiện nay có 2 biện pháp cơ bản điều trị căn bệnh này là xạ trị và hoá trị liệu. Việc phẫu thuật điều trị ung thư vòm họng ít khi được xem xét. Sự kết hợp xạ trị và hoá trị có thể nâng số nạn nhân sống sót đến 70-80%.
Xạ trị là dùng các tia phóng xạ có cường độ cao và phân bố tập trung chiếu vào khối u. Tia này sẽ làm tổn thương bộ máy sinh học của tế bào ung thư, làm đứt gãy các AND, làm tổn thương màng, làm rối loạn chuyển hoá chất và dẫn đến kết quả cuối cùng là tiêu diệt tế bào ung thư, làm tế bào ung thư bị rối loạn và tổn thương nghiệm trọng và tự chết. Xạ trị có tác dụng tại chỗ làm nhỏ lại khối ung thư, làm bình thường hoá vùng hầu họng và làm xoá bỏ mầm nhú ung thư ở vòm họng. Thời gian điều trị kéo dài từ 1 tuần đến 6 tuần tuỳ theo bệnh nhân


Hoá trị liệu là dùng các hoá chất có độ độc cực mạnh. Những hoá chất này sẽ đi vào máu và đi vào trong tế bào ung thư. Với độ độc cực mạnh, chúng làm chết tế bào ung thư gần như chỉ một thời gian ngắn sau đó. Hoá trị liệu được dùng để làm nhanh chết các tế bào ung thư tại hầu họng và đồng thời tìm diệt các tế bào ung thư vòm họng đang vãng lai trong cơ thể. Điều này giúp xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ ung thư vòm họng thứ phát từ những tế bào vãng lai này. Thời gian điều trị kéo dài từ 4-6 tháng. Mỗi tháng chỉ điều trị 1lần, kéo dài 4 ngày. Sau đó là thời gian nghỉ ngơi để cơ thể hồi phục trước khi đợt điều trị tiếp theo tiến hành.
Song cũng giống như các biện pháp điều trị khác, cả xạ trị và hóa trị đều không phải là những biện pháp điều trị chỉ có an toàn. Nó cũng có những tác dụng vô cùng có hại. Diệt được tế bào ung thư chúng ta phải đánh đổi nhiều thứ. Song những tác hại này hoàn toàn có thể giảm thiểu được tuỳ thuộc vào trình độ cơ sở y tế bạn điều trị. Và rất quan trọng, mức chi phí chi trả ch điều trị sẽ càng thấp nếu như bạn phát hiện càng sớm.
Ung thư vòm họng có thể được điều trị tại các bệnh viện có khoa tai mũi họng và có khoa xạ trị ung thư. Đa phần các bệnh viện lớn tại Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đều điều trị được bệnh này, không nhất thiết là bệnh viện tai mũi họng trung ương. Điều đó giúp chúng ta có thêm sự lựa chọn tránh khỏi quá tải y tế.


Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Phương pháp điều trị bệnh ung thư dạ dày.

Phương pháp điều trị bệnh ung thư dạ dày.



Ở Việt Nam, người bệnh thường nhầm lẫn giữa bệnh viêm loét dạy dày và ung thư dạ dày bởi các triệu chứng của chúng gần như nhau như đau thượng vị, khó tiêu, buồn nôn, ợ chua, ăn không ngon… nên nghĩ là không đáng lo ngại
Ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 15.000 ca mới được chẩn đoán ung thư dạ dày và hơn 11.000 ca tử vong vì bệnh này. Đây là bệnh ung thư phổ biến hàng thứ 3 trong số 10 loại ung thư nguy hiểm thường gặp tại nước ta. Nam giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn phụ nữ khoảng 3 lần. Bệnh hay gặp nhất ở tuổi trung niên, tuy nhiên cũng có những người dưới 30 tuổi đã mắc Ở giai đoạn đầu của ung thư dạ dày, người bệnh có thể thấy khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không thấy ngon miệng. Giai đoạn trung bình họ thường mệt mỏi, cảm giác đầy bụng sau khi ăn... Khi đã vào giai đoạn cuối của ung thư dạy dày, người bệnh sẽ thường xuyên đau bụng, nôn và buồn nôn, đi kèm với rối loạn tiêu hóa, sút cân, nuốt nghẹn, đại tiện ra phân đen (do xuất huyết tiêu hóa)...
Vị trí bị ung thư trên dạ dày
Giáo sư Nguyễn Bá Đức, Phó chủ tịch hội ung thư Việt Nam cho biết: "Đối với ung thư dạ dày, việc phát hiện sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bệnh nhân mắc ung thư này ở giai đoạn khởi phát chỉ cần phẫu thuật hớt niêm mạc, vẫn giữ nguyên được dạ dày và cơ hội khỏi là rất lớn và việc chữa trị dễ dàng hơn nhiều.
Một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (chiếm khoảng 25-50 số ca mắc bệnh); do chế độ ăn: ăn mặn, các thức ăn có chứa nhiều nitrat, béo phì; do hút thuốc lá, uống rượu... do di truyền từ gia đình, vì thế việc dùng các thực phẩm hàng ngày chú ý các loại thực phẩm đào thải các độc tố giúp ngăn ngừa nguy cơ bị ung thư dạ dày hết sức quan trọng
Giá trị của Nấm linh chi trong việc hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày cũng như các bệnh ung thư khác, bệnh cao huyết áp và gan nhiễm mỡ, tiểu đường
Trao đổi với Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Phó Trưởng Khoa – Khoa Khoa học Trường Đại học Nông Lâm, Giám đốc Dự án Linh Chi Nông Lâm (www.linhchinonglam.com) về giá trị khoa học của Nấm Linh Chi trong việc hỗ trợ điều trị bệnh các bệnh ung thư, Ông cho biết:
"Cấu trúc độc đáo của Nấm Linh Chi chính là thành phần khoáng tố vi lượng đủ loại (119 chất), trong đó một số khoáng tố như Germanium hữu cơ, vanadium, crôm… các hợp chất polysaccharides và triterpenoids... đã được khẳng định là nhân tố quan trọng cho nhiều loại phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch, giúp điều chỉnh dẫn truyền thần kinh, bảo vệ cấu trúc của nhân tế bào".
Công dụng của Nấm Linh Chi hỗ trợ điều trị hiệu quả các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, suy nhược thần kinh, gan, thận, giảm quá trình lão hóa của cơ thể, Nấm Linh Chi giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, nâng đỡ thể trạng bồi bổ cơ thể, đặc biệt thành phần polysarccharides trong Nấm Linh Chi có tác dụng khống chế sự phát triển của các tế bào bất thường (tác nhân gây ung thư, ung bướu) nên Linh Chi còn được sử dụng trong việc điều trị ung thư và hỗ trợ điều trị sau hóa trị, xạ trị..
Quả thể nấm linh chi đỏ Nhật Bản được nuôi trồng nhân tạo
Dùng Nấm Linh Chi bao lâu thì có hiệu quả? Có chắc dùng Nấm Linh Chi sẽ trị được bệnh Ung thư?
Việc này là phụ thuộc vào nhiều loại bệnh ung thư, có những người uống Nấm Linh Chi thì khối U giảm rõ rệt chỉ trong thời gian 1 đến 2 tháng nhưng một số người khác hiệu quả ít hơn. Quá trình phục hồi của người bệnh ung thư nhanh hay chậm tùy thuộc vào từng loại bệnh ưng thư khác nhau cũng như phụ thuộc giai đoạn điều trị và mức độ thích ứng của cơ địa, chữa bệnh ung thư bằng việc uống nước từ nấm linh chi nguyên chất hoặc viên chiết xuất từ nấm linh từ lâu đã được khoa học chứng minh và sử dụng rông rãi trên khắp thế giới, tuy nhiên việc điều trị trị ung thư nên kết hợp với khoa học hiện đại để có kết quả cao nhất và xem Nấm Linh Chi là một phương thuốc hỗ trợ điều trị hiệu quả giúp làm giảm, tiêu diệt khối ung cũng như tăng cường sức đề kháng, đặc biệt những người sau phẩu thuật, hóa trị xạ trị dùng nấm Linh Chi rất tốt , có thể khẳng định rằng việc dùng Nấm Linh Chi có hiệu quả hết sức tích cực, ngay cả những bệnh nhân ở thời kỳ cuối vẫn có hiệu quả tăng cường sức đề kháng giúp kéo dài thời gian sống và tăng mức độ đối kháng với bệnh.
Nấm Linh Chi rất nhiều chủng loại, trong đó Nấm Thượng Hoàng, Nấm Vân chi, Nấm Linh Chi đỏ, Nấm Hầu Thủ là những loại có tỷ lệ ức chế ngăn ngừa khối U hiệu quả rất cao trong đó Nấm Hầu thủ là một trong những loại Nấm hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày tốt nhất, các loại Nấm dược liệu này có công dụng giống nhau, chỉ khác nhau chỉ số dược tính, với người có kinh tế trung bình chúng ta có thể sử dụng Nấm Linh chi đỏ Việt Nam cũng có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa ung thư hoặc hỗ trợ tăng cường sức đề kháng trong quá trình điều trị ung thư rất hiệu nghiệm, giá Nấm Linh Chi đỏ cũng phù hợp với người có điều kiện trung bình muốn dùng để bảo vệ sức khỏe, với 1 kg Nấm Linh Chi có thể dùng 4 đến 6 tháng, chi phí cho việc uống Nấm Linh Chi để bảo vệ sức khỏe là không cao như mọi người thường nghĩ.
Tiến Sĩ Hiếu khuyên nên thường xuyên sử dụng Nấm Linh Chi như một loại thức uống hàng ngày giúp bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừa cũng như hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày cũng như các loại ung thư, ung bướu khác.


Bà mẹ trẻ "thoát" bệnh ung thư thần kỳ nhờ thảo dược và ăn kiêng

Bà mẹ trẻ "thoát" bệnh ung thư thần kỳ nhờ thảo dược và ăn kiêng
Nguyễn Thị Hồng sinh năm 1986, trú tại xã Tân Kiên, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An vẫn khỏe mạnh sau gần 4 năm điều trị khỏi bệnh ung thư đầu tụy.
Đến nay, Hồng có thể bưng bê được đồ vật nặng, căn bệnh đã khỏi hẳn.
Bị ung thư tụy tưởng sót nhau thai
Gặp Hồng tại gia đình, cô và chồng làm nghề buôn bán nhỏ. Hồng khoe hai đứa con gái. Cháu lớn năm nay học lớp 4 còn cháu nhỏ gần 4 tuổi. Tuổi của cô con gái thứ hai cũng chính là số năm mà Hồng chữa bệnh ung thư. Giọng Hồng vui sướng đến kỳ lạ khi cô kể về thời gian mình mang bệnh. Với Hồng ung thư không có gì đáng sợ và đúng như câu chuyện nào đó đã viết “Ung thư ơi xin đừng tuyệt vọng”.
Cô kể vào  năm 2010, khi Hồng vừa sinh đứa con gái thứ hai được 1 tháng, cô thấy bụng mình hay đau. Hồng nghĩ chắc do sót nhau thai nên cô chủ quan. Vài ngày sau, tình trạng đau không dứt. Hồng đi xe máy một mình lên bệnh viện huyện Cần Giuộc làm siêu âm. Tại đây, các bác sĩ cho biết Hồng bị một khối u ở đầu tụy.
Cô kể: “Bác sĩ biểu em phải đi CT, sinh thiết ngay đi vì khối u to lắm. Em về nhà chẳng dám nói với ai. Em vẫn cho con bú và chườm bụng. Mẹ chồng em hỏi về việc đi khám, em mới tiết lộ bác sĩ bảo có khối u và phải đi CT ngay. Mẹ chồng em nghe thế, bà hốt hoảng nói chuyện này với chồng em. Lúc ấy, cả nhà mắng em sao việc đó không nói sớm. Ngay hôm sau, chồng đưa em đi lên BV Chợ Rẫy làm CT nhưng không được, bác sĩ hẹn hôm sau. Sang ngày hôm sau nữa mới chụp được CT. Bác sĩ bảo khối u to lắm, mổ ngay, mổ ngay nếu không di căn thì khó mà cứu được. Kích thước khối u 8 – 8,5 cm”.
Khi nghe tin bệnh tật của Hồng, cả gia đình cô chỉ ôm cô khóc. Bác sĩ bảo mổ luôn nếu không rất khó sống được. Hơn nữa, cuộc mổ cũng không tiên lượng trước được điều gì. Hồng kể, cô đã vào viện chuẩn bị mổ nhưng khi thấy bác sĩ bảo chỉ được 50:50, cô không hoàn toàn tin tưởng mình sẽ khỏi bệnh.
Hơn nữa, tận mắt Hồng chứng kiến một ca phẫu thuật u đầu tụy. Bác sĩ mổ phanh ra rồi nhưng lại đóng vết mổ vì không thể lấy được khối u ra. Nghĩ đến điều đó, Hồng cũng tin trường hợp của mình không thể khỏi. Ba mẹ Hồng và chồng cô cũng không muốn Hồng mổ vì chưa biết tiên lượng thế nào.
Trong thâm tâm Hồng nghĩ: “Em sợ khi vào mổ rồi không thành công thì sẽ mất đi mãi mãi, con em còn bé thế nên sống chung với bệnh còn có cơ hội được thêm một thời gian nữa. Mẹ em, suốt ngày chỉ khóc vì thương em. Em thấy không sợ bệnh gì hết, em lạc quan còn động viên lại mọi người”.
Hồng lơ mơ hiểu về bệnh của mình là đang có một khối u đang phát triển có thể chạm vào dây thần kinh ở bụng, gây ra đau bụng nghiêm trọng. Thuốc giảm đau giúp cô cảm thấy thoải mái hơn.
Mỗi lần nhìn cô con gái yêu, Hồng cảm nhận cuộc đời còn một giây cũng đáng quý. Sống ở nông thôn, cô ít tiếp cận với báo chí và internet. Hồng coi như chấp nhận số phận. Mỗi lần cô lên bệnh viện, bác sĩ lại gọi cô vào “mổ ngay đi”.
Hồng kể “Ôi bác sĩ nhớ mặt em lắm, cứ thấy em là ông ấy lại khuyên mổ ngay. Em nghe mà cũng thấy hoang mang nhưng em vẫn giữ quyết định không làm phẫu thuật. Em thấy bác sĩ bảo làm phẫu thuật tránh di căn nhưng thực tế em gặp nhiều người bị ung thư tụy sau làm phẫu thuật rồi vẫn di căn mà còn di căn nhanh hơn. Ung thư tụy ai cũng phát hiện ở giai đoạn muộn nên đành chấp nhận bệnh và sống chung với nó”.
Cả nhà Hồng bắt đầu đi khắp nơi hỏi về thuốc đông y, thuốc nam để hỗ trợ điều trị ung thư. Năm đó, em gái Hồng đọc được một bài báo viết về bài thuốc trị ung thư trên mạng của một bác sĩ người Mỹ, gốc Việt. Nhà Hồng lần lượt xin số điện thoại từ tòa soạn báo đó rồi liên hệ dần dần. Cuối cùng cô mới nhận được thông báo của bác sĩ. Bác sĩ cho biết Hồng ra Hà Nội khám lại. Nhưng con Hồng chưa được hai tháng, cả nhà động viện, Hồng dứt sữa con ra Hà Nội.
Cô nhớ lại: “Em ra Hà Nội 2 tuần để các bác sĩ theo dõi khối u. Vừa đau vì khối u, vừa đau vì nhức sữa. Mỗi lần đau bít sữa, em lại khóc vì nhớ con. Nhưng càng nhớ con, em càng có niềm tin rằng điều trị bệnh thành công”.
Hồng bắt đầu lấy thuốc thảo dược của bác sĩ đó về uống. Chi phí điều trị cũng không cao mỗi tháng bốn, năm triệu cả thuốc bổ. Cô cũng không rõ thành phần của thuốc đó là những bài thuốc gì nhưng Hồng tin vào vị bác sĩ đó nên cô yên tâm sử dụng.
Thoát khỏi bệnh ung thư thần kỳ nhờ thảo dược và ăn kiêng
Hồng nhớ trong phác đồ điều trị của cô chủ yếu là sử dụng thuốc có thành phần thảo dược và ăn kiêng. Cô không ăn các loại thực phẩm nhiều chất như thịt bò, thịt heo, dầu động vật. Hồng chỉ ăn rau xanh và hoa quả.
Chia sẻ kinh nghiệm trong điều trị bệnh, bà mẹ trẻ cho biết uống thuốc thì rất đơn giản, chỉ cần tuân thủ giờ giấc là được. Nhưng khổ nhất khi điều trị theo phương pháp này đối với u tụy là phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn kiêng thịt. Thịt bò không ăn mấy cũng không sao nhưng nhiều khi Hồng thèm ăn thịt heo. Giờ bị cấm đối với Hồng như một cực hình. Nhiều lúc đang ngồi ăn cùng cả nhà, Hồng phải bỏ mâm bê bát chạy ra một góc vì sợ mình không kìm được lại ăn thịt. Tuy nhiên, bụng đỡ tức nhiều và chị cũng thấy mình đỡ mệt mỏi hơn.
Hồng kiên trì sử dụng thuốc thảo dược các loại cây cỏ, cân cần sen khoảng 11 tháng, sau đó cô thấy khối u của mình dần rắn. “Khối u của em như quả trứng ngỗng rắn như hòn đá. Em sờ vào bụng mà còn cảm nhận được. Khi ấy, em đi khám lại, vẫn ông bác sĩ bảo em mổ luôn đi, ông ấy hỏi em uống thuốc gì mà khối u vôi hóa nhanh như thế. Em chỉ cười dùng các loại cây cỏ, thảo dược thôi”. Hồng định không mổ nữa nhưng vì khối u to và rắn khiến cô nằm xuống cũng cảm nhận được nó và bị đau. Lúc này, Hồng mới đi làm phẫu thuật.
Sau khi mổ xong, cô đi làm CT lại không thấy một dấu hiệu nào của bệnh ung thư. Khối u hay các hạch di căn đều không có. Một năm đầu, cứ ba tháng Hồng lại đi kiểm tra bệnh một lần nhưng gần đây, Hồng bảo cô không đi kiểm tra sức khỏe nhưng cô thấy mình khỏe. “Em có thể bê được vật nặng từ 10 đến 20 ký mà không bị đau gì cả”.
Nói về vợ mình, chồng Hồng chỉ cười “Chuyện vợ em như câu chuyện cổ tích vậy đó. Có lúc em nghĩ cô ấy không qua khỏi vì bác sĩ tiên lượng xấu lắm. Vậy mà, vợ em được tái sinh lần hai”.
Hồng có hai cô con gái, chồng cô thi thoảng vẫn trêu đùa phải sinh thêm con nữa. Còn Hồng, cô con gái bé bị thiệt thòi vì sinh khi mẹ bị bệnh, Hồng cũng lo sức khỏe của bé nhưng đến nay con gái Hồng hoàn toàn khỏe mạnh.
GS Mai Trọng Khoa – Giám đốc TT Ung bướu BV Bạch Mai Hà Nội cho biết ung thư tuyến tụy bắt đầu trong các mô của tuyến tụy - một cơ quan ở bụng nằm theo chiều ngang phía sau phần dưới của dạ dày. Tuyến tụy tiết ra các enzyme tiêu hóa và kích thích tố giúp điều tiết sự trao đổi chất của đường.

Ung thư tuyến tụy thường có tiên lượng xấu, ngay cả khi chẩn đoán sớm. Ung thư tuyến tụy thường lây lan nhanh và hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó, là một lý do chính tại sao nó là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ung thư. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể không xuất hiện cho đến khi bệnh ung thư tuyến tụy là khá muộn và phẫu thuật cắt bỏ là không thể.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Hy vọng mới trong điều trị ung thư não

Hy vọng mới trong điều trị ung thư não


Các nhà khoa học cho biết đã tìm ra quá trình biến đổi của gene ACVR1, được cho là một trong những nguyên nhân của bệnh DIPG - một dạng ung thư não ở trẻ em.


Đó là kết quả vừa được công bố trên tạp chí Nature Genetics.
DIPG là dạng ung thư não đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em. Hiện chưa có phương pháp điều trị do bệnh này phát triển trong tế bào gốc của bộ não nên không thể tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ các khối u. Theo các nhà khoa học, gene ACVR1 biến đổi chiếm từ 20-33% trong các khối u DIPG.


Đây là lần đầu tiên quá trình biến đổi của gene ACVR1 được phát hiện ở bệnh ung thư. Trước đó, một dạng biến đổi khác của gene ACVR1 cũng đã được phát hiện ở hội chứng "người hóa đá" - hiện tượng các mô liên kết bị xơ cứng triệt để, phát sinh tình trạng tạo xương tại các cơ, mô liên kết, gân và da.


Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Gustave Roussy (Pháp) khẳng định kết quả nghiên cứu trên giúp giới khoa học hiểu rõ hơn về cơ chế phát triển của bệnh DIPG, nhất là những điều kiện phát triển của bệnh trong giai đoạn đầu, qua đó, nghiên cứu các loại thuốc điều trị nhằm ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư.


Hy vọng mới trong điều trị bệnh ung thư não ở trẻ em
DIPG là dạng ung thư não đặc biệt nguy hiểm ở trẻ em và hiện chưa có phương pháp điều trị do bệnh này phát triển trong tế bào gốc của bộ não nên không thể tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ các khối u.


Dau Dau Tre Em
Theo các nhà khoa học, gen ACVR1 biến đổi chiếm từ 20-33% trong các khối u DIPG. Đây là lần đầu tiên quá trình biến đổi của gen ACVR1 được phát hiện ở bệnh ung thư.
Trước đó, một dạng biến đổi khác của gen ACVR1 cũng đã được phát hiện ở hội chứng "người hóa đá" - hiện tượng các mô liên kết bị xơ cứng triệt để, phát sinh tình trạng tạo xương tại các cơ, mô liên kết, gân và da.

Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Gustave Roussy (Paris, Pháp) khẳng định kết quả nghiên cứu trên giúp giới khoa học hiểu rõ hơn về cơ chế phát triển của bệnh DI nhất

là những điều kiện phát triển của bệnh trong giai đoạn đầu; qua đó, nghiên cứu các loại thuốc điều trị nhằm ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư./.

Bệnh nhân ung thư vú VN ngày càng trẻ hóa

Bệnh nhân ung thư vú VN ngày càng trẻ hóa


 – Mỗi năm Việt Nam có thêm khoảng 7.000 người mắc ung thư vú với tỉ lệ tử vong khoảng 35%. Bệnh nhân mắc ung thư vú ở Việt Nam có xu hướng trẻ hóa.
>> Mỗi năm Việt Nam có thêm 12.000 ca mắc ung thư vú
“Bóng ma” ám ảnh phụ nữ
TS Nguyễn Tiến Quang, Khoa điều trị yêu cầu - BV K (Hà Nội) – cho biết ung thư vú (UTV) là loại bệnh ung thư phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.
Trên thế giới mỗi năm có khoảng 1,4 triệu người mới mắc bệnh và 458.000 người tử vong. Ở Việt Nam, mỗi năm có khoảng 7.000 người mới mắc bệnh, trong đó tỷ lệ tử vong khoảng 35%, cao hơn các nước phát triển,, bệnh có xu hướng trẻ hóa và  tăng dần qua các năm.
10 yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ung thư vú
-Tuổi tác (tuổi càng cao thì nguy cơ càng tăng, đặc biệt là trên 35 tuổi);
-Tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú: Mẹ, chị, em gái, con gái;
-Phụ nữ có kinh nguyệt sớm (dưới 12 tuổi), mãn kinh muộn (sau 50 tuổi);
-Không có con hoặc sinh con đầu lòng sau 30 tuổi;
-Đột biến gen: BRCA1. BRCA2, BRCA3, p53;
-Có bệnh lành tính ở vú như viêm, quá sản không điển hình;
- Ít vận động;
-Có khẩu phần ăn nhiều mỡ động vật, uống rượu, hút thuốc;
-Tiếp xúc với tia phóng xạ.
Đây là loại bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ thuộc trên 140 quốc gia. UTV là hậu quả của sự rối loạn trong quá trình tái sản xuất tế bào, do sự phát triển nhanh, không kiểm soát được của tế bào ống dẫn sữa hoặc của tiểu thùy vú và là căn bệnh gây tử vong cao nhất cho phụ nữ.
Trên thế giới, cứ 22 giây có 1 người bị chẩn đoán mắc bệnh. Và mỗi 5 phút, có 3 phụ nữ qua đời vì UTV.
Nếu phát hiện trễ, chỉ 1 trong 5 phụ nữ bị UTV đã di căn sống thêm được 5 năm sau chẩn đoán.
Ung thư vú nếu được phát hiện và điều trị sớm thì tỷ lệ chữa khỏi bệnh đạt tới 90% và chất lượng sống của bệnh nhân được tăng lên rõ rệt.
Vì vậy, kết quả điều trị ung thư vú tốt hay xấu tùy thuộc vào giai đoạn bệnh lúc được phát hiện.
Nếu ở giai đoạn sớm thì kết quả rất tốt, có thể đạt tới 100%. Nếu phát hiện sớm, khả năng chữa khỏi UTV rất cao, điều trị đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả. 50% bệnh nhân UTV có thể được cứu sống bằng các biện pháp: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất và kết hợp với các phương pháp tiên tiến khác: liệu pháp nội tiết tố, sinh học (điều trị nhắm trúng đích).


Có thể phòng chống, chữa khỏi
Tuy luôn là bóng ma ám ảnh mọi phụ nữ nhưng UTV hoàn toàn có thể phòng chống và chữa khỏi được. Do đó, khi có một trong số nguy cơ tiềm ẩn như: tiền sử gia đình có chị, em gái, mẹ bị ung thư (nguy cơ UTV cao gấp 6 lần so với bình thường); những người thừa cân, béo phì, hút thuốc lá… chị em cần đi khám, kiểm tra sàng lọc định kỳ.
10 dấu hiệu báo động ung thư vú
- Sờ thấy khối u ở vú;
- Một bên vú dày và chắc hơn bên kia;
- Một bên vú to lên. Một phần hay toàn bộ vú bị sưng lên;
- Một bên vú xệ xuống bất thường;
- Da vùng vú bị lồi lõm, co kéo bất thường;
- Núm đau hoặc tụt vào trong;
- Thay đổi màu sắc hoặc tính chất trên da của vú: Màu da cam, co rút da;
- Có hạch dưới nách;
- Chảy dịch núm vú không phải sữa;
- Đau, nổi đỏ, vẩy nến hoặc dày da ở núm vú hoặc da vú.
Khi có những dấu hiệu trên, cần đến ngay cơ sở y tế để khám và phát hiện, điều trị kịp thời.
Phụ nữ từ 40 tuổi có nguy cơ UTV ở mức trung bình cần đi khám và chụp nhũ ảnh mỗi năm. Với những người thuộc nhóm nguy cơ cao kể trên, nên bắt đầu đi khám ở độ tuổi 30 và đề nghị được chụp MRI cho khu vực này.
Nếu bạn từ 20-30 tuổi và thuộc nhóm nguy cơ trung bình, nên đi kiểm tra ngực ít nhất 3 năm một lần. Thường xuyên kiểm tra cảm giác ở ngực, nếu thấy bất thường sau kỳ kinh nguyệt, nên đi gặp bác sĩ ngay.

Ngoài ra, thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh (có nhiều trái cây và rau quả), luôn kiểm soát cân nặng, tập thể dục thường xuyên, bổ sung a xít béo Omega- 3, cho con bú sữa mẹ … cũng là những cách phòng tránh UTV rất hữu hiệu mà chị em nên áp dụng.  
Theo TS Quang, để phát hiện sớm bệnh ung thư vú, các phương pháp sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú có hiệu quả cao hiện nay có: Tự khám vú hàng tháng và khám vú tại các cơ sở y tế chuyên khoa, đặc biệt là những phụ nữ sau 30 tuổi.
Phương pháp thứ 3 là chụp X-quang tuyến vú. Chụp X-quang tuyến vú là biện pháp có vai trò quan trọng trong sàng lọc ung thư vú. Chụp X-quang tuyến vú có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở tuyến vú ngay cả khi trên lâm sàng chưa sờ thấy khối u, trong số đó có ung thư.
Tầm soát UTV miễn phí cho phụ nữ ở 5 thành phố lớn tại VN
Cuối năm 2013 vừa qua, Quỹ Hỗ trợ bệnh nhân ung thư - Ngày mai tươi sáng (Bộ Y tế)  đã cùng triển khai dự án phòng chống bệnh ung thư vú với tên gọi “Vì Phụ nữ, Vì Ngày mai”.
Dự án bao gồm các kế hoạch hành động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức và hỗ trợ phụ nữ trong việc tầm soát sớm, phòng chống và điều trị UTV.
Hai thành phố lớn, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, ở hai đầu dải đất hình chữ S đã cùng “nối vòng tay lớn” bằng “sức mạnh hồng”. Đây là chương trình mang ý nghĩa lớn và cũng là chương trình đầu tiên, toàn diện và chuyên sâu được triển khai với quy mô toàn quốc nằm trong cam kết đẩy lùi bệnh UTV ở Việt Nam trong  khoảng thời gian ba năm, từ 2013 - 2015.

Cùng với việc triển khai tuyên truyền kiến thức, Quỹ Hỗ trợ bệnh nhân ung thư - Ngày mai tươi sáng, Bộ Y tế sẽ phối hợp với các hệ thống bệnh viện chuyên về ung thư trên toàn quốc tiến hành thực hiện khám và tầm soát miễn phí cho phụ nữ ở năm thành phố lớn, huấn luyện chuyên môn cho y bác sĩ trong công cuộc phòng chống và kiểm soát bệnh UTV tại Việt Nam.